Các quyết định của Tòa án trong tố tụng hành chính
Để kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án phải ban hành các quyết định để hiện việc giải quyết vụ án hành chính, đó có thể là quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, đình chỉ giải quyết vụ án hành chính hoặc đưa quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thẩm quyền ra quyết định này thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án.
Vậy khi nào Tòa án phải ban hành các quyết định thể hiện việc giải quyết vụ án hành chính? Luật Hà Nội VDT xin phép giải đáp vấn đề về liên quan đến các quyết định của tòa án trong tố tụng hành chính như sau:
Các quyết định của Tòa án trong tố tụng hành chính gồm:
– Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính;
– Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính hoặc Đưa quyết định đưa vụ án ra xét xử.
– Các quyến định của Tòa án trong tố tụng hành chính được Thẩm phán phân công giải quyết vụ án ra quyết định.
Sau khi ra một trong các quyết định trên thì Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp trong vòng 03 ngày làm việc.
1. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án
Tạm đình chỉ giải quyết vụ án được hiểu là “việc Thẩm phán được giao quyết vụ án ra quyết định tạm thời dừng giải quyết vụ án vì có những lý do nhất định làm cho vụ án không thể giải quyết , khi những lý do đó không còn thì tiếp tục giải quyết vụ án.”
Các trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính được quy định tại khoản 1 Điều 141 Luật Tố tụng hành chính 2015 như sau:
– Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng.
– Đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật.
– Đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không thể có mặt vì lý do chính đáng, trừ trường hợp có thể xét xử vắng mặt đương sự.
– Cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan khác hoặc kết quả giải quyết vụ việc khác có liên quan.
– Cần đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại; cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu Tòa án mới giải quyết được vụ án.
– Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản đó.
Như vậy:
Có 06 trường hợp mà Tòa án có thể tạm đình chỉ vụ án hành chính. Quyết định tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử do Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa quyết định. Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
2. Đình chỉ giải quyết vụ án
Quyết định Đình chỉ giải quyết vụ án là “việc Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án khi có một trong các căn cứ đình chỉ theo quy định của pháp luật.”
Căn cứ khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính 2015, cơ sở để Thẩm phán ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính gồm:
– Người khởi kiện là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; cơ quan, tổ chức đã giải thể hoặc tuyên bố phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng;
– Người khởi kiện rút đơn khởi kiện trong trường hợp không có yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp có yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu của người khởi kiện đã rút;
– Người khởi kiện rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút đơn yêu cầu độc lập;
– Người khởi kiện không nộp tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật. Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập mà không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Luật này thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu độc lập của họ.
– Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;
– Người bị kiện hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đồng ý rút yêu cầu;
– Thời hiệu khởi kiện đã hết;
– Các trường hợp trả lại đơn khởi kiện tại khoản 1 Điều 123 Luật TTHC 2015 mà Tòa án đã thụ lý.
Như vậy:
Các trường hợp luật định như trên là cơ sở để tòa án quyết định đình chỉ vụ án hành chính. Khi ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, Tòa án trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ cho đương sự nếu có yêu cầu. Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
3. Quyết định đưa vụ án ra xét xử
Khi tòa án không có căn cứ để tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án hành chính và có đầy đủ các yêu cầu cho việc mở một phiên tòa xét xử vụ án thì Tòa án phải ban hành quyết định vụ án ra xét xử.
Căn cứ khoản 1 Điều 146 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định, Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các nội dung chính sau đây:
– Ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;
– Việc xét xử được tiến hành công khai hay xét xử kín;
– Tên, địa chỉ của người tham gia tố tụng
– Nội dung việc khởi kiện
– Họ, tên của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có).
Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho các đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định. Căn cứ Điều 149 Luật TTHC 2015 quy định thời điểm mở phiên tòa, trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn mở phiên tòa có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày.
Đối với thủ tục giải quyết khiếu kiện về Danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, Danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, trong thời hạn 02 ngày, kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử.
Công ty luật Hà Nội VDT
NHÂN - TÍN - NGHĨA - DANH - LỢI
- Địa chỉ: Tầng 3 toà nhà Savina số 1 phố Đinh Lễ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội
- Điện thoại: 0385203093
- Hotline: 0989316320
- Email: trantien@ngheluat.vn










